khai truong toa nha bo tai chinh Nha hat lon

Kinh tế - Xã hội

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá trong 4 tháng đầu năm
04/05/2019 09:30

 Tổng cục Thống kê vừa cho biết, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 4/2019 ước tính tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.

 

 
 
 
Tính chung bốn tháng đầu năm, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,7% của cùng kỳ năm ngoái nhưng cao hơn mức tăng 7,4% và 6,6% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017.
 
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,9% (cùng kỳ năm trước tăng 12,9%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,3%; riêng ngành khai khoáng bằng cùng kỳ năm trước (khai thác than tăng 13%, khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,1%).
 
Ông Phạm Đình Thúy, Vụ trưởng Thống kê công nghiệp, Tổng cục Thống kê, cho biết sản xuất công nghiệp tháng Tư và bốn tháng đầu năm đạt kết quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai con số. Bên cạnh đó, ngành sản xuất và phân phối điện bảo đảm đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất và sử dụng của người dân với tốc độ tăng giá trị sản xuất cao hơn mức tăng chung của toàn ngành.
 
Tổng cục Thống kê chỉ ra, trong các ngành công nghiệp, một số ngành có chỉ số sản xuất bốn tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp, đó là sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 77,5%; sản xuất kim loại tăng 40,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 18,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14%...
 
Bên cạnh đó, có một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 5,4%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 4,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 1,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 2,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,1%...
 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu bốn tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước là xăng, dầu tăng hơn 70%; sắt, thép thô tăng trên 67%; tivi tăng hơn 42%; khí hóa lỏng (LPG) tăng gần 30%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 19,5%; ôtô tăng hơn 18%... Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm là thép thanh, thép góc tăng hơn 3%; xe máy giảm trên 3%; đường kính giảm 6,5%; dầu thô khai thác giảm hơn 8%; linh kiện điện thoại giảm gần 25%...
 
Trong bốn tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp của 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước; trong đó, Thanh Hóa dẫn đầu với mức tăng gần 43% do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018; Trà Vinh tăng hơn 38% do Công ty Nhiệt điện Duyên hải tăng sản lượng điện sản xuất; Hà Tĩnh tăng gần 35% chủ yếu do đóng góp của Tập đoàn Formosa.
 
Chỉ số sản xuất công nghiệp bốn tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như Hải Phòng tăng 23%, Quảng Ninh tăng hơn 13%, Vĩnh Phúc tăng gần 13%, Hà Nội tăng gần 7%, Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,6%, Cần Thơ tăng trên 6%, Đà Nẵng tăng hơn 4%...
 
Các địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước gồm Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 0,4% do khai thác dầu thô tiếp tục giảm; Gia Lai giảm 5,6% do sản xuất đường giảm; Hòa Bình giảm hơn 11% chủ yếu do sản lượng điện sản xuất giảm; Bắc Ninh giảm gần 12% do sản xuất sản phẩm linh kiện điện thoại giảm mạnh./.
 
Theo Thúy Hiền (TTXVN/Vietnam+
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký Đăng nhập

 

Liên kết hữu ích
  • Loại Mua Bán
    Vàng SJC 1L - 10L 41.430 41.700
    Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 41.420 41.870
    Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ 41.420 41.970
    Vàng nữ trang 99,99% 40.900 41.700
    Vàng nữ trang 99% 40.287 41.287
    Vàng nữ trang 75% 30.028 31.428
    (Nguồn sjc.com.vn)
  • Mã ngoại tệ Mua Bán
    AUD 15614.21 15879.73
    CAD 17435.15 17731.64
    CHF 23175.46 23569.56
    DKK 3389.68 3495.93
    EUR 25573.87 26341.93
    GBP 29635.53 29899.32
    HKD 2936.52 2980.49
    INR 324.43 337.16
    JPY 212.59 219.78
    KRW 19.07 20.59
    KWD 76147.05 79134.85
    MYR 5505.41 5576.68
    NOK 2491.6 2569.7
    RUB 361.08 402.35
    SAR 6171.84 6414
    SEK 2345.38 2404.42
    SGD 16850.11 17034.14
    THB 749.27 780.52
    USD 23145 23265
    (Nguồn Vietcombank)